Tin Tức

Top 10 Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” (Ngữ văn 10) hay nhất

1


Hà Ngô

Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” số 1

Người Ấn Độ thường tự hào rằng: “Chừng nào sông chưa cạn, núi chưa mòn thì sử thi Ramayana còn làm say lòng người và cứu giúp họ ra khỏi tội lỗi”. Từ xưa, họ đã coi “Ramayana” là bộ sách quý báu của cả dân tộc cần được tôn vinh và ngưỡng mộ. Nhân vật Rama trong tác phẩm ẩn chứa những vẻ đẹp sâu sắc để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc.

Rama được xây dựng như một vị anh hùng, một nguồn sáng chói lóa của dân tộc, kết tinh hết thảy mọi vẻ đẹp chuẩn mực trên cõi đời này, hiện lên sự lí tưởng của con người nơi trần thế. Về nguồn gốc xuất thân .Theo truyền thuyết , Rama là hóa thân thứ 7 của thần Visnu – đấng tối cao của đẳng cấp quý tộc Bà la môn. Visnu được giáng thế làm người cứu nhân loại ra khỏi vòng trầm luân đau khổ trong chiến tranh loạn lạc. Mục đích giáng trần vô cùng cao quý đó là cứu nhân độ thế, tiêu diệt cái ác, bảo vệ cái thiện. Ngay từ xuất thân đã cho thấy Rama là người xuất chúng như thế nào. Chàng có nhiệm vụ tiêu diệt con quỷ Ravana – hiện thân của cái ác, cái xấu trong xã hội. Và chàng anh hùng với xuất thân vô cùng cao quý kia phải làm một việc cũng hết sức kiêu hùng : diệt trừ cái ác, bảo vệ cái thiện và đem lại cuộc sống ấm no cho mọi người.

Rama là hình tượng đặc trưng cho nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hinđu, đẳng cấp của một vương tôn quý tộc, đồng thời cũng là niềm mong muốn và khát khao của nhân dân Ấn Độ tới một vị anh hùng có sức mạnh lớn lao có khả năng che chở và bảo vệ quần chúng, đem lại công bằng và công lí cho cả xã hội.

Xuyên suốt cả tác phẩm đồ sộ ấy, những người nghệ sĩ dân gian luôn dành cho Rama một sự kính trọng, đề cao chàng là người thông minh, tài giỏi nhất trong bốn vị hoàng tử, là người chiếm được niềm tin yêu của Đức vua cũng như vị đạo sĩ, hội tụ đầy đủ tài năng, được công chúng yêu quý và ủng hộ khi bước lên ngai vàng. Chàng là người giàu lòng tự trọng, biết quý trọng nhân phẩm và danh dự của bản thân cũng như luôn luôn bày tỏ lòng hiếu thảo với đức vua cha. Vào trước hôm Rama lên ngôi vua, Kakeyi đã nhắc lại với nhà vua điều hứa năm xưa và muốn nhà vua nhường ngôi cho con trai bà ta – Bharata thay vì Rama, và nhà vua phải ra lệnh cho Rama chịu lưu đày trong rừng 14 năm. Vì không muốn cha phải trở thành kẻ thất hứa bị mọi người chê cười , muốn bảo vệ danh dự cho cha , Rama đã thực hiện lời hứa của cha với thứ phi Kakeyi cho dù chàng hoàn toàn có thể ở lại và dù Bharata cũng từ chối ngôi vua này. Sống quen trong nhung lụa nhưng Rama vẫn chấp nhận rời bỏ cuộc sống ấy để bảo toàn danh dự và lời hứa với vua cha.

Chàng là người có trí thông minh phi phàm, có sức mạnh phi thường mà không ai có thể sánh nổi. Chàng có đôi mắt sáng như trời và trăng, có đôi tai thấu âm nhạc trời đất, là kẻ thù của những sự giả dối, ghen tuông, những điều xấu, điều ác trên thế giới này, là hiện thân của những vẻ đẹp và sức mạnh phi thường. Chàng đã nâng được cây cung thần bằng chính sức mạnh của mình và sự thông minh hiếm có, chàng đã chiếm được trái tim của nàng Sita. Sau này, hai vợ chồng Rama giúp đỡ dân làng và đã lập được rất nhiều chiến công. Chàng bảo vệ dân làng khỏi bọn quỷ dữ: từ con quỷ Vali, con quỷ khổng lồ vô địch, đánh quỵ trâu thần Dundubbi. Rama diệt trừ quỷ Thataka và đặc biệt là quỷ vương Ravana . Với tinh thần hiệp nghĩa, Rama đã chiến đấu giành lại ngôi báu cho Sugriva khi Sugriva bị quỷ Vali cướp vợ và đuổi đi. Rama chính là hiện thân của ước mơ công lí, chính nghĩa sẽ chiến thắng của nhân dân Ấn Độ. Chàng đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho dân làng cũng chính là đang chuyên chở những mong muốn, ao ước của người dân Ấn về một cuộc sống công bằng xã hội được đặt lên hàng đầu.

Tuy là hóa thân của thánh thần, nhưng Rama cũng nổi bật bởi “tính người” rất chân thành của mình, thể hiện qua tình yêu với nàng Sita. Thánh thần nhưng chàng vẫn biết yêu, chàng yêu Sita say đắm, tin tưởng vào sự chung thủy của vợ nhưng đã từng có lúc chàng ghen, chàng nghi ngờ về sự trinh bạch của tâm hồn nàng Sita. Thế nhưng khi nhìn thấy vợ trước đám lửa thiêu, Rama đã không giấu nổi sự đau xót. Lòng ghen đã khiến chàng đánh mất đi sự sáng suốt của một đấng minh quân, chỉ đến khi thần Agni làm chứng cho sự trong sạch của vợ, Rama mới tin tưởng vào lòng chung thủy của người vợ. Và nhờ tính cách này trong con người Rama mà chàng không xa lạ với nhân dân, chàng cũng chỉ là một con người bình thường, có những cảm xúc riêng tư, có tình yêu trong sáng và cũng có những phút hờn dỗi ghen tuông như những con người bình thường. Điều này không làm cho chàng tầm thường hóa mà khiến nhân vật Rama trở nên gần gũi hơn.

Nghệ thuật miêu tả nhân vật hết sức sắc sảo, có thể sáng ngang với ngòi bút của Wiliams Shakespear ở bầu trời phương tây xa xôi. Tài năng của Valmiki đã biến bộ sử thi “Ramayana” trở nên có sức hút lớn lao cho mỗi thế hệ độc giả cả xưa và nay.

Hình minh họa
Hình minh họa


2


Hà Ngô

Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” số 2

Ra-ma-ya-na là một trong hai bộ sử thi rất nổi tiếng của Ấn Độ, được xưng tụng là kiệt tác thi ca đầu tiên của Ấn Độ mang tầm vóc vĩ đại, có sức ảnh hưởng sâu rộng và lâu bền trong nền văn hóa, đời sống tinh thần của người dân Ấn Độ và vượt ra ngoài cương vực lãnh thổ đến với các quốc gia khác trên thế giới, điển hình là một số nước Đông Nam Á. Được hình thành vào khoảng thế kỷ IV-III trước công nguyên, sử thi này đã từng được bổ sung, hoàn thiện bởi rất nhiều các thế hệ văn nhân-tu sĩ Ấn, sau cùng trở thành tuyệt tác văn hóa nghệ thuật dưới đôi bàn tay của đạo sĩ Van-mi-ki. Tác phẩm kể về cuộc đời và những kỳ tích của hoàng tử Ra-ma, con trai trưởng của nhà vua Đa-xa-ra-tha trong quá trình bị lưu đày, đề cao đạo đức của hoàng tử Ra-ma, đồng thời ca ngợi mối tình chung thủy của nàng Xi-ta, phản ánh ước mơ của người dân Ấn về một vị minh quân, và hình mẫu lý tưởng của người phụ nữ Ấn Độ cổ đại. Đoạn trích Ra-ma buộc tội nằm ở chương 9, khúc ca thứ VI, kể về mâu thuẫn của vợ chồng Ra-ma và vợ, sau khi hoàng tử cứu được Xi-ta – vợ mình từ tay quỷ dữ Ra-va-na, mà thông qua đó nội tâm sâu sắc và những nét tính cách của hai nhân vật Ra-ma và xi-ta được khai thác và bộc lộ một cách rõ nét.

Sau khi đã giải quyết xong xung đột cộng đồng, giết quỷ Ra-va-na, cứu thoát vợ để giành lại danh dự và chứng minh sức mạnh không được phép ai khinh nhờn, thì Ra-ma lại tiếp tục rơi vào một xung đột khác đó là xung đột cá nhân, xung đột giữa tình yêu với danh dự và bổn phận. Ra-ma và Xi-ta đã gặp lại nhau trong một bối cảnh cộng đồng có sự chứng kiến của công chúng, bao gồm anh em bạn hữu của Ra-ma, đội quân của loài khỉ, quan quân dân chúng của loài quỷ. Chính vì vậy Ra-ma và vợ đã đối thoại với nhau bằng tư cách của những người đứng giữa cộng đồng, chàng xuất hiện với tư cách kép, thứ nhất là tư cách của một vị vua, thế nên ngài đã chọn cách xưng hô với vợ mình là “Hỡi phu nhân cao quý”, một cách xưng hô khách sáo và xa lạ. Trước cộng đồng Ra-ma khẳng định và tuyên bố việc tiêu diệt quỷ vương Ra-va-na không phải vì Xi-ta mà trước hết là vì danh dự cá nhân, với Ra-ma “kẻ nào bị quân thù lăng nhục mà không đem tài nghệ của mình ra để trả thù là kẻ tầm thường”. Sau đó quan trọng hơn cả danh dự cá nhân chính là danh dự cộng đồng, Ra-ma chiến đấu là “để bảo vệ uy tín và danh dự lẫy lừng của dòng họ lẫy lừng tiếng tăm”, để “chứng tỏ ta không thuộc về một gia đình bình thường”.

Sau tư cách của vị vua, tư cách của người dẫn đầu một cộng đồng dân tộc, Ra-ma trở lại với tư cách của một người chồng, tư cách của một người chồng bị lăng nhục, cho nên khi gặp lại Xi-ta sau bao tháng ngày xa cách chàng đã có những biểu hiện của sự tức giận vì ghen tuông. Chàng có rất nhiều cơ sở để chứng minh cho sự ghen tuông của mình là đúng đắn, thứ nhất là vì nàng Xi-ta “đã lưu lại lâu trong nhà một kẻ xa lạ”, thứ hai là vợ chàng đã bị quấy nhiễu khi ở trong vạt áo của Ra-va-na, và cuối cùng chính là bởi nhan sắc xinh đẹp yêu kiều của Xi-ta thì theo lô-gic bình thường tên quỷ háo sắc hẳn là không chịu đựng được lâu. Từ những nghi ngờ này dẫn đến việc Ra-ma đã xua đuổi, rũ bỏ Xi-ta bằng những lời nói cạn tình, cạn nghĩa, xoáy sâu vào tấm lòng người vợ tội nghiệp: “Ta không cần đến nàng nữa, nàng muốn đi đâu tùy ý”. Có thể lý giải cho hành động ghen tuông và thái độ nhẫn tâm này của Ra-ma bằng một nguyên nhân khác nữa, đó chính là do xuất phát từ tư cách cộng đồng, tư cách của một vị vua được biết bao người tôn kính, nhìn vào, thế nên dù chỉ một vết xước nhỏ cũng khiến cho chàng và cả dòng họ chàng chịu sự chỉ trích, điều ấy khiến chàng khó có thể giữ lại Xi-ta.

Và cũng ngay lúc này đây trong lòng của Ra-ma xuất hiện một mâu thuẫn dữ dội, giằng xé nội tâm của chàng không dứt, đó là mâu thuẫn giữa trách nhiệm, tư cách với cộng đồng và tình yêu thương sâu sắc đối với vợ. Đâu ai biết được sau những lời nói kiên quyết, sắc bén như dao làm tổn thương Xi-ta, thì ngay tại chính tâm hồn chàng cũng phải chịu những nỗi đau tương tự, đau đớn vì sự nhẫn tâm của mình với người vợ yêu dấu, bàn tay chàng đang tự hủy hoại đi tình yêu 14 năm của họ, chỉ vì gánh nặng cộng đồng. Ta có thể nhận thấy tình yêu tha thiết của Ra-ma dành cho vợ qua một vài chi tiết nhỏ đó là ánh mắt nhìn “người đẹp khuôn mặt bông sen với những cuộn tóc lượn sóng đứng trước mặt mình, lòng Ra-ma đau như dao cắt”, rồi khi nghe thấy Xi-ta quyết định bước lên giàn hỏa thiêu, Ra-ma đã không dám nhìn đến nàng lấy một lần, mà mắt chàng chỉ dán xuống đất, bởi chàng sợ chàng sẽ không kìm nén được mà giữ Xi-ta lại. Trong khi tất cả những người xung quanh đều có quyền được đau khổ được xót thương cho Xi-ta thì chỉ riêng chàng là không được, bởi cái gánh nặng cộng đồng, gánh nặng dòng họ vẫn còn đang đè nặng trong trái tim của chàng. Những thứ ấy khiến tình yêu của Ra-ma bị ép lại, không được phép thể hiện ra, dù chính bản thân chàng cũng đang bị dày vò, đau đớn đến vô cùng, bởi chàng là người yêu Xi-ta nhất, và cũng chính chàng đã bức nàng đến bước đường hiến thân cho thần Lửa này. Sự đớn đau và mâu thuẫn đã khiến Ra-ma trở nên khủng khiếp như thần Chết vậy, có lẽ lòng của Ra-ma cũng sắp chết theo từng bước chân của Xi-ta rồi, nhưng chàng là một vị vua, chàng phải cai trị cả một cộng đồng, chàng không được phép mềm yếu vì tình yêu, chàng phải đứng vững vì danh dự của cả dòng họ, thật khốn khổ cho một người anh phải mang vác quá nhiều trách nhiệm.

Về nhân vật Xi-ta, nàng là người phụ nữ xinh đẹp và đức hạnh có một tình yêu đẹp và một cuộc hôn nhân hạnh phúc với Ra-ma người nàng yêu trong suốt 14 năm trời, thế nhưng bất hạnh thay vì một kiếp nạn bị quỷ Ra-va-na bắt cóc mà nàng bị chồng nghi ngờ và ruồng rẫy. Sau khi được giải thoát nàng đã nôn nóng biết bao nhiêu khi ngay lập tức đến gặp lại người chồng dấu yêu, thế nhưng đáp lại nàng là một cách xưng hô thật xa lạ của Ra-ma “Hỡi phu nhân cao quý”, khiến nàng cảm thấy lạnh lẽo và có linh cảm chẳng lành. Nghe những lời đối thoại của chồng trước bao người, chàng chỉ nhắc đến những nhân vật chẳng mấy liên quan, chàng chẳng hề đoái hoài tới nàng, Xi-ta đã “mở tròn đôi mắt đẫm lệ”, với trí tuệ và sự nhạy bén của mình nàng biết chắc chồng mình đang cố gắng lảng tránh điều gì đó, và nàng đã đúng bi kịch đã ập ngay xuống đầu người phụ nữ tội nghiệp. Nàng bị chồng vu cho tội danh thất tiết, không chung thủy, rằng nàng đã bị tên quỷ Ra-va-na vấy bẩn, nàng đã không còn xứng đáng với Ra-ma và dòng họ của chàng nữa. Ra-ma đang xua đuổi nàng bằng những lời nói độc ác và tàn nhẫn đến cực điểm, chàng bảo nàng đi đâu thì tùy, chàng không còn cần nàng nữa, nàng đi đâu được với tội danh ô nhục không có thực.

Những điều đó đã khiến Xi-ta đau khổ và bàng hoàng “đến nghẹt thở”, tâm hồn nàng như một “cây dây leo bị vòi voi quật nát”, trái tim nàng tan vỡ vì những lời bạc nghĩa của Ra-ma. Thế nhưng nàng sao có thể để bản thân bị những lời sai sự thật làm ô uế, nàng phải cứu vãn danh dự, nàng phải cứu vãn tình yêu của nàng, Xi-ta đã dùng chính tư cách của bản thân, tư cách con gái của nữ thần Đất để bảo đảm cho sự trong sạch của nàng. Có thể thấy trong những lời minh oan, nức nở, nghẹn ngào của Xi-ta ngoài sự đau khổ thì còn là sự tức giận, bởi Ra-ma người chung sống với nàng 14 năm cũng không hề tin tưởng nhân phẩm của nàng. Xi-ta đã chất vấn Ra-ma bằng một với tư cách một người vợ “Cớ sao chàng lại dùng những lời lẽ gay gắt khó tả như vậy đối với thiếp, giống như một kẻ thấp hèn đang chửi mắng một con mụ thấp hèn?”, nàng cũng dùng tư cách một hoàng hậu, một con người của cộng đồng để chất vấn Ra-ma “Suy từ hành vi của loại phụ nữ thấp hèn, chàng đã ngờ vực tất cả giới phụ nữ, nhưng thế đâu có phải”. Có thể thấy Xi-ta không phải là một người phụ nữ yếu đuối, nàng sẵn sàng mạnh mẽ chống lại những lời không đúng sự thật để bảo vệ danh dự bản thân và danh dự của tất cả phụ nữ trong cộng đồng. Thế nhưng dù cho nàng có chất vấn, Ra-ma vẫn giữ nguyên thái độ, lòng Xi-ta và trái tim Xi-ta đã hoàn toàn nguội lạnh nàng dành cho chồng mình cách xưng hô xa lạ giống như chàng đã đối với nàng “Hỡi đức vua!”, nàng đã có quyết định cho riêng mình và để lại cho Ra-ma lời cuối “Tình yêu của thiếp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra hoàn toàn vô ích”.

Không còn cách nào hơn nữa, chỉ có thần Lửa mới có thể chứng minh được tấm lòng trung trinh của nàng, dù cho thân xác nàng có phải chịu đau đớn thường tổn, nhưng như thế có là gì so với những lời buộc tội như xát muối vào tim của Ra-ma. Xi-ta nàng sẽ bước lên giàn hỏa thiêu, thứ nhất là để rửa oan cho chính bản thân, thứ hai là để hoàn thành cho cái danh dự cộng đồng của Ra-ma, để rửa sạch mối nghi ngờ, cùng với những xung đột trong lòng Ra-ma. Hành động của Xi-ta chính là minh chứng cho tấm lòng thủy chung, trong sạch một lòng hướng về chồng, đồng thời cũng thể hiện sự dũng cảm, bản tính ngay thẳng “cây ngay không sợ chết đứng”, nhân cách cao đẹp của Xi-ta, đối với nàng ngoài tình yêu của chồng, thì danh dự là thứ không thể bị xúc phạm, nàng cũng có tư cách của riêng mình, mà không kẻ nào được làm tổn thương nó. Có thể nói rằng vẻ đẹp và nhân cách của Xi-ta chính là đại diện cho hình mẫu phụ nữ lý tưởng trong nền văn hóa Ấn Độ cổ đại.

Qua đoạn trích Ra-ma buộc tội với những lời thoại dài thể hiện một cách rõ nét nội tâm sâu sắc và những nét tính cách của hai nhân vật chính là Ra-ma và Xi-ta cùng những mâu thuẫn nội tại cá nhân và mâu thuẫn giữa vợ-chồng. Đoạn trích đã để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc về nền văn hóa Ấn Độ cổ xưa, về vai trò và vị trí của con người bị ràng buộc bởi nhiều thứ, nhưng lẩn khuất trong đó ta vẫn thấy được những giá trị của tình yêu, tình nghĩa vợ chồng bị bao bọc bởi cái vỏ mâu thuẫn và xung đột khó giải quyết.

Hình minh họa
Hình minh họa

3


Hà Ngô

Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” số 3

Tác phẩm Ra-ma-ya-na có ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Đây là một trong những bộ sử thi vĩ đại nhất của Ấn Độ nói riêng và của thế giới nói chung. Đoạn trích Ra-ma buộc tội nằm ở khúc ca thứ 6 chương 79 với tình huống truyện hết sức đặc sắc qua đó thể hiện được những phẩm chất, tính cách của hai nhân vật chính là Ra-ma và Xi-ta.

Ra-ma hiện lên là một người anh hùng, kiên cường, dũng cảm đã đánh bại quỷ vương để cứu người vợ thân yêu của mình trở về. Trong đoạn trích, Ra-ma còn hiện lên với những phẩm chất, tính cách khác mà trước hết là tình yêu với vợ. Tình yêu đó được thể hiện ở quyết tâm đi cứu vợ khỏi quỷ vương Ra-va-na. Vợ rơi vào tay kẻ thù chắc chắn một người chồng sẽ đi cứu vợ và Ra-ma cũng không phải một ngoại lệ. Chàng cứu được Xi-ta vừa vui, vừa lo âu, buồn bã. Tình yêu còn được thể hiện trong sự ghen tuông rất đỗi đời thường, vợ rơi vào tay một người đàn ông khác lâu như vậy, nếu yêu vợ chẳng có ai lại không ghen, lời nói, hành động ruồng bỏ của Ra-ma cũng là vì lẽ ghen tuông ấy mà ra. Ngoài ra, tình yêu của chàng với Xi-ta còn được thể hiện ở nỗi lòng của Ra-ma khi phải buộc tội vợ, lòng chàng đau như cắt, mỗi lời chàng nói ra như có trăm ngàn vết dao cứa vào tim. Nhưng chàng không thể làm điều gì khác ngoài lời buộc tội ấy, bởi ngoài tư cách là một người chồng, chàng còn là vị quân vương tương lai sau này.

Những bên cạnh đó, Ra-ma còn hiện lên với tư cách công dân, vị quân vương tương lai, trọng danh dự, nhân phẩm. Bởi vậy dẫn đến hành động quyết liệt từ bỏ vợ. Hành động của Ra-ma cho thấy chàng luôn luôn đứng trên quyền lợi của cộng đồng để ra quyết định, điều đó cho thấy Ra-ma là người biết nhìn xa trông rộng, bởi lẽ yêu thương luôn đi liền với danh dự, bỏ mất danh dự tình yêu thương chỉ còn là sự thương hại. Điều này khiến cho trong Ra-ma nảy sinh mẫu thuẫn một mặt muốn yêu thương, bảo vệ Xi-ta mặt khác lại muốn bảo vệ danh dự dòng dõi. Tuy có xung đột như vậy nhưng quyết định cuối cùng vẫn phải trên lập trường nhân vật, cộng đồng. Đây chính là vẻ đẹp nói chung của các vị anh hùng trong sử thi, đặt quyền lợi cá nhân sau quyền lợi cộng đồng, kiên quyết bảo vệ danh dự đến cùng.

Về phía Xi-a nàng cũng mang trong mình nhiều phẩm chất tốt đẹp. Đầu tiên phải kể đến là tình yêu, sự thủy chung của nàng với Ra-ma. Trong những ngày bị quỷ vương bắt nàng luôn giữ gìn tiết hạnh, không cho quỷ vương động đến người mình, bởi cả thể xác và tâm hồn nàng đều thuộc về Ra-ma. Khi Ra-ma đánh thắng quỷ vương, nhận được tin đó Xi-ta nóng lòng muốn gặp lại ngay người chồng yêu thương của mình. Nàng bỏ cả điểm trang, nàng bỏ qua tục lệ tắm rửa vì muốn đến gặp chồng cho nhanh. Việc làm đó chứng tỏ tình yêu nồng nhiệt, cháy bỏng Xi-ta giành cho chồng.

Nhưng đồng thời nàng cũng là một phụ nữ hết sức thông minh, hành động kiên quyết để chứng minh phẩm giá, sự trong sạch của bản thân. Khi gặp chồng nàng phải đứng trước không gian cộng đồng, ngay lập tức nàng đã hiểu ý nghĩa cuộc gặp gỡ này, nàng tỏ ra vô cùng khiêm nhường trước Ra-ma. Bị Ra-ma đặt vào tình thế bất ngờ, từ niềm mong mỏi được gặp chồng nàng bỗng bị đặt trước những lời phán xét cay nghiệt của chính người mà mình yêu thương, nàng đã đưa ra những lí lẽ để chứng minh sự trong sạch của bản thân.

Lập luận của nàng hết sức chặt chẽ, có trước có sau, giọng điệu từ tốn mà vô cùng kiên quyết. Nàng trách Ra-ma đã không suy xetsm đánh đồng nàng với những phụ nữ tầm thường: “giống như kẻ thấp hèn chửi mắng một con mụ thấp hèn”. Và nàng khẳng định phẩm hạnh, tư cách của mình, với những lời lẽ thanh minh hết sức sắc sảo “Ra-va-na đã đụng đến thiếp khi mà thiếp đang chết ngất đi, làm thế nào tránh được”, còn khi nàng tình táo, nằm trong tầm kiểm soát thì “trái tim thiếp đây, là thuộc về chàng”. Những lập luận đanh thép vừa cho thấy tình yêu với Ra-ma vừa cho khẳng định sự trong sạch của Xi-ta. Xi-ta thay đổi cách xưng hô, khi gọi Ra-ma là chàng tự xưng mình là thiếp, khi lại gọi Ra-ma là đức vua. Không chỉ vậy, lời thoại của nàng còn hướng đến những người xung quanh, như một cách để thanh minh, bào chữa cho chính mình.

Nhưng lời bào chữa cũng không thể lấy được niềm tin của Ra-ma, nàng đi đến một hành động kiên quyết, đặt cược cả mạng sống của mình bằng cách tự thiêu, nhờ thần lửa A-nhi chứng minh cho sự trong sạch của bản thân. Nàng bước lên tự tin, không chút sợ hãi, bởi nàng trong trắng, vô tội nên các vị thần linh sẽ chứng giám cho sự trong trắng toàn vẹn của nàng. Với hành động đó, Xi-ta vừa chứng minh được trước toàn thể cộng đồng sự trong sạch, nhân phẩm cao quý của mình, vừa loại bỏ mọi sự ghen tuông đang ngùn ngụt trong lòng Ra-ma. Hành động của Xi-ta còn cho thấy, tự bản thân nàng cũng ý thức được trách nhiệm công dân của mình trong cộng đồng. Bởi vậy nàng phải tìm mọi cách để chứng minh, bảo vệ danh dự cá nhân, danh dự cộng đồng. Ý thức về danh dự, nhân phẩm chính là yếu tố qua trọng nhất ở cả Ra-ma và Xi-ta.

Để tạo nên thành công trong việc xây dựng hai nhân vật ta cần phải kể đến nghệ thuật xây dựng tình huống truyện đặc sắc, giúp các nhân vật bộc lộ phẩm chất bản thân. Ngôn ngữ nhân vật tài tình, tinh tế giúp diễn tả được tâm trạng nhân vật. Ngôn ngữ thường tập trung thuyết giảng đạo đức dựa trên lí tưởng cộng đồng. Nghệ thuật so sánh được vận dụng linh hoạt, giúp tái hiện tâm lí nhân vật.

Với tình thế, thử thách ngặt nghèo đặt ra cho cả Ra-ma và Xi-ta tác giả đã giúp người đọc khám phá những nét tính cách đẹp đẽ trong hai nhân vật. Đó là tình yêu tha thiết, sâu nặng, là ý thức về vai trò của bản thân trong tập thể, cộng đồng. Hai nhân vật là đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp của người Ấn Độ.

Hình minh họa
Hình minh họa

4


Hà Ngô

Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” số 4

Đoạn trích “Ra-ma buộc tội” trong sử thi Ấn Độ “Ra-ma-ya-na” là một đoạn trích hay và đặc sắc cho ta hiểu được những quan niệm của người Ấn Độ về mẫu hình người anh hùng, vị vua mẫu mực, đồng thời thể hiện quan niệm về người phụ nữ lí tưởng qua nhân vật Xi-ta. Xi-ta là một người vợ đức hạnh, chung thủy một lòng với Ra-ma và rất có bản lĩnh bảo vệ cho những phẩm chất, đức hạnh của mình.

Xi-ta là vợ của Ra-ma, Khi Ra-ma đi lưu đày vào rừng, nàng cùng em trai của Ra-ma tình nguyện đi theo, khi thời hạn lưu đày sắp hết thì Xi-ta bị quỷ Ra-va-na bắt cóc về đảo Lan-ka. Ra-ma sau khi được vua khỉ Xu-gri-va giúp đỡ và lấy lại được vương quốc đã vượt biển tấn công đảo Lan-ka cứu Xi-ta, thế nhưng sau khi đã cứu được nàng Ra-ma lại nghi ngờ Xi-ta không còn trọn vẹn danh tiết sau những ngày tháng trong tay quỷ Ra-va-na nên đã buộc tội và tuyên bố từ bỏ nàng vì danh dự. Ban đầu Xi-ta vô cùng hạnh phúc khi được Ra-ma cứu khỏi tay quỷ, đó là niềm hạnh phúc của một người vợ được đoàn tụ với chồng và gia đình của mình.

Thế nhưng khi Xi-ta nghe những lời buộc tội, ruồng rẫy của Ra-ma nàng đã”đau đớn đến nghẹt thở, như một cây dây leo bị vòi voi quật nát…”. Nàng ngạc nhiên vô cùng, không nghĩ rằng với tình yêu, sự hy sinh hết lòng và chung thủy với chàng mà chàng lại đem suy nghĩ thấp hèn ấy chửi rủa nàng như một con mụ thấp hèn. Khi ấy bằng sự thông minh và khéo léo và cả sự tổn thương danh dự, nhân phẩm của mình nàng đã dùng hết lời lẽ thiết tha, dịu dàng và thấu tình đạt lí để bày tỏ, thanh minh cho sự trong sạch, chung thủy của mình. “Thiếp còn gì là thanh danh, nếu như chàng vẫn chưa hiểu được thiếp qua tình yêu của thiếp và qua tiếp xúc với tâm hồn của thiếp”. Nàng khẳng định rõ, tư cách của nàng là khác biệt và cách xa với những phụ nữ tầm thường, thấp kém, nàng phân biệt cho Ra-ma hiểu rõ cái phải tùy thuộc vào số mệnh và cái nàng có thể làm chủ đó là “cái thân thiếp đây” và “trái tim thiếp đây”.

Ra-ma trách nàng đã để người khác xâm phạm đến thân thể, nhưng Xi-ta cho rằng đó là do số mệnh nàng không thể chống lại nhưng trái tim nàng nằm trong tầm kiểm soát của nàng thì vẫn luôn chung thủy, một lòng hướng về Ra-ma. Nàng khẳng định lòng thủy chung của mình và tình yêu, nếu như biết trước Ra-ma sẽ từ bỏ mình sau khi cứu về thì nàng đã “kết liễu đời mình ngay trước mặt chàng Va-na-ra đó rồi”, khi biết Ra-ma nghĩ về mình như một người tầm thường, nàng cảm thấy lòng trung thành và tình yêu của nàng đã hoàn toàn vô ích. Sự thất vọng tràn trề trong lòng nàng, chẳng còn lời lẽ nào để có thể lay đổi suy nghĩ của Ra-ma về nàng, nàng cũng không còn gì để nói, nàng chọn cái chết để chứng minh cho danh tiết của mình. Nàng sai Lắc-la-ma chuẩn bị giàn lửa, nàng không hề đắn đo, lo lắng hay sợ sệt, cũng không cần cầu cứu ai thanh minh cho mình, nàng để cho thần lửa A-nhi minh giám “Nếu con trước sau một lòng một dạ với Ra-ma… xin thần A-nhi phù hộ cho con”. Nàng dũng cảm bước vào ngọn lửa vì nàng tin sự trong trắng, trinh tiết của một người đức hạnh như mình sẽ cảm thấu đến các vị thần và thần lửa đã không xâm phạm đến nàng, trong ngọn lửa trang tuyệt thế giai nhân ấy càng tỏa sáng và rực rỡ hơn.

Hình tượng nàng Xi-ta đã không chỉ là mẫu hình người phụ nữ lí tưởng của Ấn Độ nói riêng mà còn là mẫu hình chung cho toàn phụ nữ trong xã hội. Đoạn trích “Ra-ma buộc tội” đã làm nổi bật lên những phẩm chất đức hạnh tốt đẹp của nàng, một người vợ thủy chung son sắt, người phụ nữ bản lĩnh, rất đáng khâm phục.

Hình minh họa
Hình minh họa

5


Hà Ngô

Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” số 5

Ra Ma buộc tội là một đoạn trích thể hiện những tâm trạng giằng xé, giữa tình yêu giữa xi Ta và Ra Ma, đây đều là những nhân vật, bao quanh và tạo nên những mẫu thuẫn đỉnh điểm trong câu chuyện, Xi ta là một nhân vật có thể thấy là đáng chú ý nhất, trong hoàn cảnh đó.

Trong mối quan hệ giữa Xi Ta và Ra Ma nó tạo nên nhiều tình tiết hấp dẫn, và những chi tiết đó đã để lại cho người đọc có nhiều cơ hội để có thể hiểu được tình tiết và nhân vật Xi Ta, trước những lời buộc tội của Ra Ma, Xi Ta đã đau đớn và trái tim như đang bị rằng xé bởi những lời trói buộc đó, đôi mắt đẫm nước mắt, những dòng tâm trạng của cô đã mang lại cho người đọc một tình cảm sâu sắc nhất, khi hình ảnh đó đã tác động sâu sắc đến tâm hồn và trái tim của tác giả. Mặc dù đau đớn và không kiềm chế được cảm xúc nhưng cô vẫn bình tĩnh để có thể thanh minh về những điều mà mình làm. Khi cô nghe được những lời trói buộc của Ra Ma chính cô còn có những thái độ ngạc nhiên đến cùng quẫn, và nó không chỉ để cho cô những cúc động và đau đớn đến nghẹn ngào, cô đang choáng ngợp trước những lời buộc tội đó. Nước mắt cô chảy ra, trái tim đau đớn đến tột cùng, khi người mà mình yêu thương, không tin tưởng vào chính mình.

Nhưng để giải quyết được những mâu thuẫn đó, Xi Ta đã dùng những lời lẽ để đáp trả những lời buộc tội của Ra Ma, một điều Xi Ta muốn chứng minh con người của mình, luôn là người chung thủy và không bao giờ làm bất cứ đều gì mà có lỗi mà ảnh hưởng đến người khác, chính vì vậy, để đáp tra lại những lời buộc tội đó trước tiên là nhân vật này dùng những lời lẽ trách móc chàng, sao lại dùng những lời buộc tội đó để lăng nhục phẩm chất của nàng. Và rồi để chứng minh đức hạnh và phẩm chất tiết hạnh của mình nàng đã nêu lên được những lời lẽ nhằm thuyết phục Ra ma tin tưởng vào con người của mình. Nàng luôn mong muốn Ra Ma tin tưởng vào con người của mình, nàng cũng là xuất thân từ một gia đình có nguồn gốc cao quý, chính những lý do đó đủ để có thể thuyết phục được Ra Ma.

Vị trí xuất thân đã hơn phần những người khác nhưng đây mới chỉ là những lời nói mà Xi Ta đã dùng để nói với Ra ma, khi nàng cố giải thích cho chàng nghe về mình, về sự việc đã xảy ra, chính nàng đã bị bắt cóc và tên quỷ vương kia đã có những hành động xấu đối với nàng. Chính vì lý do nàng bị ngất đi và hành động đó nàng không thể biết được, đây là toàn bộ những lý do mà nàng giải thích, nhưng rồi những hành động cuối cùng mà nàng dùng để chứng minh cho Ra Ma biết về mình cũng là hành động quyết định rằng Ra Ma có tin tưởng vào Xi Ta hay không, nàng quyết định bước lên giàn lửa, đây là hành động sẵn sàng dùng cái chết để chứng minh về phẩm chất đức hạnh của mình, những hành động cao cả của nàng đã đủ để chứng minh rằng nàng là một cô gái có phẩm chất đạo đức vô cùng đáng quý, nó thể hiện một tình cảm mạnh mẽ và sâu sắc nhất đối với Ra Ma.

Nàng là một cô gái có những đức tính đáng khen ngợi, nó thể hiện một tinh thần cao cả, sẵn sàng hy sinh để giữ vững được danh dự và chứng minh tấm lòng son sắt của mình, những chi tiết này có thể thể hiện những tình cảm và sự chân thành sâu sắc nhất mà tác giả muốn thể hiện trong tác phẩm. Những chi tiết đã đem lại cho người đọc một cái nhìn đầy thiện cảm về một sự vật, và một hành động cao quý của Xi ta. Để chứng minh những điều đó, cô đã dùng những đạo đức và sự suy tư chiêm nghiệm sâu sắc nhất để chứng minh về con người của mình. Có thể thấy rằng nghệ thuật xây dựng tình huống của tác giả cũng vô cùng sâu sắc, nó thể hiện một quan niệm trong cách tạo nên tính cách và tâm lý của nhân vật.

Dòng tâm lý của nhân vật mở ra khi tình huống bắt đầu, nó bùng nổ khi mẫu thuẫn nên đến đỉnh điểm, đó là những biện pháp mà thu hút được sự chú ý mạnh mẽ của đọc giả. Những tình huống ly kì hấp dẫn và nó thu hút mạnh mẽ cái nhìn, và sự chú ý của đọc giả trong cách tạo nên những tình huống đầy hấp dẫn trong tâm hồn của tác giả, với những lời lẽ mang ý nghĩa to lớn nó để lại cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về chính nhân vật Xi Ta. Cô là biểu tượng và hình mẫu lý tưởng cho người con gái Ấn Độ với nhiều phẩm chất cao quý, cô thể hiện được tình cảm và những sự ngưỡng mộ sâu sắc của nhân vật đối với chính mình. Đó là tất cả những gì mà tác giả muốn thể hiện về nhân vật của mình.

Từ những tình huống trong câu truyện mà tác giả thể hiện thêm những dòng tâm trạng lớn đối với chính những tình tiết đang diễn ra, để thể hiện được sự thủy chung của mình, tác giả đã xây dựng tình huống để cho nhân vật của mình đối diện giữa sự sống và cái chết, cái chết đã nảy ra những cách giải quyết đầy tính sáng tạo, khi người con gái này có thể giải cho mình những nỗi oan ức, giữ được phẩm chất trong sáng và tấm lòng son sắt, một mình luôn phải cố gắng để có thể bình tĩnh và chứng minh cho Ra ma biết về chính con người cũng như đạo đức của chính mình.

Những hành động đó đủ để chứng minh một con người luôn luôn hướng tới sự thủy chung son sắt, sự ra đi của người con gái này cũng để lại cho người dân nhiều nhức nhối bởi tâm hồn cao cả, luôn hướng tới những điều tốt nhất mong muốn dành cho Ra Ma, xây dựng tâm hồn của mình vươn lên để đạt tới được ngưỡng cao của việc giải quyết mâu thuẫn và những lời buộc tội của Ra Ma về mình, tấm lòng đó đã được thể hiện và nó dường như là một kết thúc đậm chất triết lý và cũng vô cùng sâu sắc của tác giả.

Ra Ma buộc tội là một đoạn trích hay nó để lại cho người đọc nhiều cảm xúc, khi tình huống trong câu chuyện vô cùng hấp dẫn và nó thu hút người đọc bởi tính cách và dòng diễn biến tâm lý của nhân vật Xi Ta.

Hình minh họa
Hình minh họa

6


Hà Ngô

Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” số 6

Ramayana là kiệt tác đầu tiên của thi ca Ấn Độ, tồn tại vững bền và “ cứu vớt nhân dân Ấn khỏi tội lỗi”. Đoạn trích “ Ra-ma buộc tội” thuộc chương 79, khúc ca 6 của sử thi Ramayana. Đọc đoạn trích, ta thấy nổi bật lên hình tượng hai nhân vật Ra-ma và Xi-ta. Nếu như Ra-ma là mẫu người anh hùng lí tưởng thì Xi-ta lại là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ chung thuỷ tiết hạnh, một người con gái hiền từ nhu mì và nhân hậu. Một người con gái dám đổi cả tính mạng để chứng minh cho tình yêu của mình.

Đọc đoạn trích, trước hết ta thấy Xi-ta là người thông minh. Phẩm chất thông minh của nàng thể hiện qua linh cảm. Nóng lòng đến gặp chồng sau khi được chồng cứu thoát khỏi tay quỷ vương Ra-va-na nhưng Xi-ta lại “ mở tròn đôi mắt đẫm lệ”. Lẽ ra, đây phải là một cuộc đàon tụ, Ra-ma phải dành cho Xi-ta những cái nhìn âu yếm. Nhưng tất cả những lời nói và hành động của Ra-ma làm cho Xi-ta cảm thấy thất vọng. Xi-ta đii từ mừng rỡ đến ngạc nhiên, từ tin yêu đến thất vọng. Linh cảm trong Xi-ta dường như mách bảo có chuyện hệ trọng sắp xảy ra. Nghe Xi-ta nói, nàng nhận ra những dấu hiệu chẳng lành. Cứu thoát vợ là một nghĩa vụ muôn đời của người chồng, thế nhưng Ra-ma cứu thoát Xi-ta nhằm mục đích gì. Tại sao khi ở cạnh Xi-ta, Ra-ma lại chỉ quan tâm đến những nhân vật không quan trọng như Ha-nu-man, Vi-phi-sa-na, tại sao Ra-ma lại gội Xi-ta là “ hỡi phu nhân cao quý”…Bao nhiêu câu hỏi ập đến trong suy nghĩ của nàng báo hiệu một chuyện chẳng lành.

Đối mặt với nỗi tuyệt vọng khi bị người chồng buộc tội, tình yêu của Xi-ta thể hiện đậm nét. Đôi mắt Xi-ta đẫm lệ. Đó là đôi mắt nhìn chồng một cách bi thương. Bởi đối với Xi-ta, tất cả tình yêu của nàng đã dành cho Ra-ma. Tất cả những ngày nàng mong đợi để thể hiện tình yêu với Ra-ma thì giờ đây trở nên lạc lõng bởi R-ma không còn dành cho Xi-ta một tình yêu như thế. Nàng thất vọng nhưng đến khi nghe lời buộc tội của ra-ma, Xi-ta đau đớn đến nghẹt thở, như một cây dây leo bị vòi voi quật nát. Tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh rất đặc sắc để miêu tả nỗi đau trong con người Xi-ta. Mỗi lời nói của Ra-ma nhằm vào Xi-ta như những mũi tên bắn trúng đích. Xi-ta xấu hổ cho số kiếp của nàng. Nàng muốn chôn vùi cả hình hài thân xác của mình. Rồi sau đó, Xi-ta khoan thai biện minh với chồng. Những lời biện minh có cả lí lẽ nhưng trên hết nàng nói là vì tình yêu. Rằng tình yêu của nàng chưa bao giờ thay đổi “ chỉ có số mệnh của thiếp là đáng bị chê trách, nhưng những gì nằm trong vòng kiểm soát của thiếp, tức trái tim thiếp đây là thuộc về chàng”. Hay khi bị quỷ vương bắt, nàng luôn giữ trong mình một suy nghĩ “ ta chỉ thuộc về một người, người đó là Ra-ma như ánh sáng thuộc về mặt trời”. Như thế ta thấy Xi-ta là một người phụ nữ có trái tim son sắt.

Giữa Ra-ma và Xi-ta có một sự không ngang bằng. Xi-ta đang là người bị phán xét, là người có tội. Nhưng trong Xi-ta lúc nào cũng có một niềm tin mãnh liệt, nàng tin vào trái tim mình và hi vọng. Lòng tin ấy cất lên qua lời nói: “ Hỡi đức vua! như một người thấp hèn bị cơn giận giày vò. Người đang nghĩ về thiếp như một người phụ nữ tầm thường. Tên thiếp là Gia-na-ki, bởi vì thiếp có liên quan đến lễ tế sinh của nhà vua Gia-na-ki…Vì không thể suy xét cho đúng đắn, chàng đã không hiểu được bản chất của thiếp. Tình yêu của thiêp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra như hoàn toàn vô ích”. Nói đến đây Xi-ta oà khóc, nàng thật đáng thương.

Cuối cùng, Xi-ta đã chọn bước lên giàn hoả thiêu để khẳng định sự thuỷ chung, trong trắng của mình. Trong tín ngưỡng Bà la môn thì thần lửa A-nhi nắm vai trò phán xét tối cao. Đây cũng là mô tip quen thuộc trong văn học phương Đông- lấy cái chết để giải oan. Xi-ta bước lên giàn hoả thiêu với một tâm thế bình tĩnh đến lạ lùng. Giữa cảnh đó, mọi người có sự chấn động về tinh thần một cách ghê gớm khi tiễn biệt một tâm hồn cao cả về với thần linh vĩnh viễn. Thần lửa A-nhi đã giải thoát cho nàng. Đây là một kết thúc đầy chất lãng mạn, là sự gửi gắm niềm tin, hi vọng của con người.

Với nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc, nhân vật Xi-ta hiện lên với rất nhiều vẻ đẹp. Xi-ta là tiêu biểu cho người phụ nữ Ấn Độ nói riêng và người phụ nữ thế giới nói chung có tấm lòng thuỷ chung. Những đau khổ mà Xi-ta phải cam chịu cũng là những đau khổ mà bất kì một người phụ nữ nào có thể gặp phải.

Hình minh họa
Hình minh họa

7


Hà Ngô

Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” số 7

Ra – ma – ya – na là một bộ sử thi của Ấn Độ được thực hiện bởi Van – mi – ki vào thế kỷ III trước Công Nguyên. Tác phẩm này được đánh giá như một kiệt tác thi ca bất hủ của người dân Ấn Độ. Bởi nó thể hiện chân thực xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ đầy trái ngang và mâu thuẫn đặc biệt đối với phụ nữ. Nhưng cũng thông qua đó, tác giả lại làm nổi bật được giá trị tốt đẹp về đạo đức, lòng chung thủy của con người trong đó. Điều này được làm sáng rõ hơn trong đoạn trích “Ra – ma buộc tội”.

Sau khi đánh thắng Ra – va – na, Ra – ma trì hoãn việc gặp vợ sau đó chàng cho người mời Xi – ta đến chốn đông người để gặp. Ngỡ tưởng Ra – ma và Xi – ta sẽ có màn tái hợp trong hạnh phúc thế nhưng nơi họ gặp nhau không phải là không gian riêng tư mà là không gian công cộng trước biết bao con người. Ra – ma nếu lý do buộc tội và nguyên nhân đem quân cứu Xi – ta vì danh dự của chàng đã bị xúc phạm. Ra – ma không chỉ đứng trên cương vị một người chồng, mà chàng còn đứng trên cương vị đức vua, người đứng đầu một nước với quyền lực tối cao.

Tuy nhiên, có thật sự chỉ vì danh dự mà Ra – ma mới cứu vợ mình? Xét trong bối cảnh lịch sử, vai trò của người đàn ông trở nên quan trọng và quyết định mọi thứ nhất là một người vua đứng đầu một nước. Chúng ta có thể cảm nhận được nỗi tức giận, căm phẫn, nghi ngờ xen lẫn ghen tuông của Ra – ma. Lòng tự trọng, danh dự của một người đàn ông đặt lên trên hết thảy nhưng ẩn giấu trong đó là tình yêu, càng yêu lại càng hận. Do vậy, Ra – ma dù còn yêu vợ mình, nhưng chàng buộc phải thốt ra những lời tàn nhẫn biết bao khiến Xi – ta phải tổn thương. Chàng có thể vì yêu mà dẫn tới ghen tuông, nghi ngờ. Chàng vì cương vị một nhà vua, một người anh hùng mà phải khôi phục danh dự. Nhưng cũng rất có thể chàng đang muốn bảo vệ Xi – ta trước những sự bàn tán cay nghiệt của kẻ khác, vì vậy chàng muốn mọi thứ được minh bạch và rõ ràng.

Ra – ma buộc tội Xi – ta thiếu lòng chung thủy. Sau lời buộc tội ấy, Ra – ma còn ruồng bỏ vợ và xua đuổi nàng. Xi – ta tưởng được hạnh phúc khi gặp lại chồng thì trớ trêu lại bị chồng buộc tội và ruồng bỏ. Nàng hết sức bất ngờ nhưng cũng từ bất ngờ đi đến đau đớn, khi bị chính người chồng mà mình hết lòng yêu thương nghi ngờ sự trong sạch và lòng chung thủy của mình. Nàng đau đến mức nghẹn thở như một cây dây leo bị vòi voi quật nát, nước mắt nàng tuôn ra như suối chảy, nỗi đau khiến nàng muốn chôn vùi hình hài thân xác của mình. Mặc dù vô cùng đau đớn, khổ sở nhưng Xi – ta là người thông minh, giàu lòng tự trọng và ý thức về nhân phẩm cao. Nàng nhanh chóng lấy lại tự chủ, bình tĩnh sau những giây phút xúc động dữ dội và đau đớn tột cùng. Nàng cất lời thanh minh với phong thái dịu dàng nhưng lại đầy vẻ mạnh mẽ. Mỗi lời nàng nói đều thấu tình đạt lý, nàng đã dùng lý lẽ của mình để chứng minh những lời buộc tội của Ra – ma là vô căn cứ, chàng thậm chí không xứng làm một quân vương khi hồ đồ vu oan cho nàng như vậy.

Xi – ta đã dùng danh dự của mình để thể hiện sự trong sạch. Nàng còn dũng cảm chất vấn Ra – ma nếu không yêu nàng nữa thì nhắn với nàng để nàng kết liễu cuộc đời để không phải chịu những oan ức, ngang trái nữa. Nàng là Gia – na – ki là con của đất mẹ là hiện thân của thần, nàng sẽ không bao giờ làm những chuyện có lỗi với người mình yêu. Tuy vậy, tất cả lý lẽ của nàng đều không thuyết phục được Ra – ma. Ra – ma ngồi đó cúi mặt trông khủng khiếp như thần chết vậy. Bất lực trước sự hồ đồ của Ra – ma, Xi – ta dứt khoát bước lên giàn hỏa thiêu, nhờ thần A – nhi chứng giám cho sự trong sạch và tấm lòng thủy chung, son sắt của mình. Càng yêu chồng bao nhiêu, Xi – ta càng dũng cảm bấy nhiêu để đi đến lựa chọn lấy cái chết chứng minh cho bản thân.

Chỉ đến khi thần lửa A – nhi lên tiếng: “Hỡi Ra – ma, Gia – na – ki của người đây. Nàng trong trắng, nàng không phạm bất cứ tội lỗi nào, bằng lời nói, việc làm, hay ý nghĩ”. Hành động dứt khoát và dũng cảm ấy đã mang nàng về với Ra – ma. Như vậy, trong đoạn trích “Ra – ma buộc tội”, vẻ đẹp của nhân vật Xi – ta được bộc lộ rõ hơn, nếu như trước đó chúng ta biết nàng có khuôn mặt đẹp như hoa sen, vẻ đẹp thanh tao, thoát tục thì ở đoạn trích này, chúng ta cảm nhận được Xi – ta là một con người không chỉ giàu lòng yêu thương, thủy chung với chồng mà nàng còn rất kiên chinh, dũng cảm, giàu lòng tự trọng và ý thức nhân phẩm, sẵn sàng dùng cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của mình. Hình ảnh Xi – ta được xây dựng mang màu sắc sử thi nhưng lại rất đời thường khi nàng chính là biểu tượng của của những người phụ nữ Ấn Độ thời bấy giờ với những chuẩn mực về đức hạnh, sự hi sinh và tâm hồn cao thượng.

Hình minh họa
Hình minh họa

8


Hà Ngô

Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” số 8

Ra-ma-ya-na là bộ sử thi, niềm tự hào của người Ấn Độ. Người dân Ấn Độ tin rằng “chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì Ra-ma-ya-na còn mãi làm say lòng người và cứu họ ra khỏi vòng tội lỗi”. Một nhà nghiên cứu phương Tây từng miêu tả về Ra-ma-ya-na: “Đó là tác phẩm chan chứa những âm điệu du dương, toát ra mội bầu không khí yên lành và một tình yêu thương vô bờ bến trong hoàn cảnh xã hội đầy sự mâu thuẫn và xung đột” (Michelet).

Một trong những hiện thân của vẻ đẹp làm say lòng người ấy là nhân vật Xi-ta. Nàng không chỉ là hình ảnh bổ sung cho sự kì vĩ của người anh hùng Ra-ma mà còn là minh chứng cho vẻ đẹp chân thực, toàn mĩ của người phụ nữ Ấn, từ hình dáng bên ngoài đến những phẩm chất tâm hồn bên trong. Vẻ đẹp của nàng luôn được miêu tả gắn liền với cụm từ “gương mặt bông sen” – đó là chi tiết ngoại hình luôn được láy đi láy lại trong tác phẩm. Hoa sen hay bông sen là biểu tượng của vẻ đẹp chuẩn mực, vẻ đẹp của cả hình dáng bề ngoài và chiều sâu nội tâm trong quan niệm thẩm mĩ của người Ấn Độ. Khuôn mặt bông sen, đôi mắt hình hoa sen… là những hình ảnh miêu tả quen thuộc về người phụ nữ trong văn học Ấn Độ. Miêu tả nàng bằng chi tiết ấy, dường như ngay từ đầu, người kể đã khẳng định vẻ đẹp toàn mĩ ở nàng.

Và vẻ đẹp toàn mĩ ấy cũng đã được thử thách trong suốt chiều dài các sự kiện của câu chuyện. Song lần thử thách cuối cùng nghiệt ngã nhất nhưng đồng thời cũng vinh quang nhất là sự kiện Ra-ma buộc tội nàng và nàng bước lên giàn lửa. Chương 78 kể lại những diễn biến đầy kịch tính của sự kiện này. Đọc chương truyện cùng với những cảm thương trước nỗi oan uổng của nàng, ta còn có thể sẻ chia cùng nàng cái cảm giác bị ruồng bỏ, dù rằng đằng sau sự ruồng bỏ ấy là tình yêu. Và có lẽ, đó chính là dấu ấn bi kịch trong bộ sử thi tràn ngập cảm xúc ngợi ca này.

Ta có thể hiểu tâm trạng của Ra-ma trong những lời buộc tội Xi-ta: ban đầu vì sợ tai tiếng, về sau là cảm giác nghi ngờ, ghen tuông. Trong lời nói có đầy đủ sự giận dữ, sự ghẻ lạnh, sự xúc phạm và lăng nhục của chàng vẫn có tình yêu. Nhưng chính tình yêu lại càng làm cho những lời nói của chàng trở nên độc ác. Chàng đã không chỉ buộc tội nàng, chàng đã xúc phạm và hơn thế, lăng nhục nàng bằng những lời lẽ nặng nề nhất. Và Xi-ta đã nghe, đã cảm nhận được tất cả những trạng thái tình cảm ấy ở chồng mình. Còn gì đau đớn hơn khi người thân yêu nhất của mình lại xúc phạm mình nặng nề đến thế?

Trước lời buộc tội của chồng, nàng Xi-ta trái tim tan nát, đau đớn đến nghẹn thở, xấu hổ cho số kiếp…, nghĩa là nàng phải trải qua một loạt những cảm xúc của nỗi đau, nỗi tủi nhục, nàng phải tự minh oan cho mình. Và nàng quả thật thông minh khi lần lượt chứng minh những ngờ vực của Ra-ma là không căn cứ. Nàng lấy danh dự, rồi nguồn gốc xuất thân, lòng trung thành, tình yêu của mình để làm minh chứng. Nhưng, tất cả dường như đều không đủ, đều vô nghĩa trước cơn giận dữ cùa Ra-ma. Chàng ngồi đó, “trông khủng thiếp như thần chết vậy”. Tình huống sử thi, tính cách nhân vật sử thi hay tâm lí con người bình thường đã chi phối diễn biến của chuyện, chi phối tâm trạng của Ra-ma? Chàng Ra-ma cao quý khi ấy có khác gì những con người bình thường, tầm thường nhất?

Thái độ của Ra-ma đã tạo nên hoàn cảnh bi thảm của Xi-ta buộc nàng phải chứng minh bằng hành động thuyết phục cuối cùng: bước lên giàn lửa. Thần lửa A-nhi sẽ là minh chứng cuối cùng, đủ sức thuyết phục nỗi nghi ngờ khổng lồ trong tâm hồn của chồng nàng. Lúc này, cho dù lâm vào hoàn cảnh nghiệt ngã ấy, ở nàng vẫn ngời lên một tình yêu thủy chung, trong sáng. Có lẽ, chính tình yêu ấy làm nên lòng dũng cảm của nàng. Nàng bước vào ngọn lửa trong sự kêu khóc vang trời của muôn loài, trong nỗi thương xót cực độ của những người chứng kiến. Thần lửa A-nhi đã khẳng định sự trong trắng của nàng: “Hỡi Ra-ma, Gia-na-ki của người đây. Nàng trong trắng. Nàng không phạm bất cứ tội lỗi nào, bằng lời nói, việc làm, hay ý nghĩ” (Dẫn theo SGK Ngữ văn 10, tập 1)

Sự trong trắng của nàng là sự trong trắng tuyệt đích. Cho dù bị xúc phạm, bị lăng nhục nhưng tình cảm của nàng, sự thủy chung của nàng vẫn không hề thay đổi. Vẻ đẹp của nàng là vẻ đẹp của một tấm gương mà bất cứ một người phụ nữ nào trên trái đất này đều có thể soi và tự hoàn thiện mình. Nàng trở về trong vòng tay của Ra-ma sau sự chứng minh khốc liệt nhất. Đó là sự khẳng định cao nhất phẩm chất của nàng của sử thi. Sức hấp dẫn của sử thi Ấn Độ một phần là bởi trong vẻ đẹp cùa huyền thoại vẫn lấp lánh những tính cách rất con người. Nhưng với Xi-ta, vẻ đẹp huyền thoại và vẻ đẹp con người dường như hoàn toàn thống nhất. Đó phải chăng là lời ngợi ca đẹp nhất về nàng.

Tuy thế, cảnh tượng bi tráng về nàng, nỗi đau của nàng vẫn còn để lại những dấu ấn không phai trong lòng người đọc. Nàng là biểu tượng của vẻ đẹp nhưng cũng là nỗi đau xót mà một người phụ nữ có thể gặp trong cuộc đời mình. Nhưng hơn hết, tình yêu vẫn luôn là phép màu kì diệu làm cho thế giới mãi mãi tốt đẹp hơn. Xi-ta là biểu tượng của sự hoàn thiện, hoàn mĩ về cả hình thức, tâm hồn và tình yêu cao cả. Nhưng bi kịch của nàng cũng tiêu biểu cho những gì mà người phụ nữ có thể gặp phải trong thế giới này.

Không khí trong lành và tình yêu thương vô bờ bến toát ra từ những trang sử thi Ra-ma-ya-na chính bởi vẻ đẹp thẳm sâu của nữ nhân vật: nàng Xi-ta.

Hình minh họa
Hình minh họa

9


Hà Ngô

Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” số 9

Ramayana là kiệt tác đầu tiên của thi ca Ấn Độ, tồn tại vững bền và “cứu vớt nhân dân Ấn khỏi tội lỗi”. Đoạn trích “Ra-ma buộc tội” thuộc chương 79, khúc ca 6 của sử thi Ramayana. Đọc đoạn trích, ta thấy nổi bật lên hình tượng hai nhân vật Ra-ma và Xi-ta. Nếu như Ra-ma là mẫu người anh hùng lí tưởng thì Xi-ta lại là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ chung thuỷ tiết hạnh, một người con gái hiền từ nhu mì và nhân hậu. Một người con gái dám đổi cả tính mạng để chứng minh cho tình yêu của mình.

Đọc đoạn trích, trước hết ta thấy Xi-ta là người thông minh. Phẩm chất thông minh của nàng thể hiện qua linh cảm. Nóng lòng đến gặp chồng sau khi được chồng cứu thoát khỏi tay quỷ vương Ra-va-na nhưng Xi-ta lại “mở tròn đôi mắt đẫm lệ”. Lẽ ra, đây phải là một cuộc đoàn tụ, Ra-ma phải dành cho Xi-ta những cái nhìn âu yếm. Nhưng tất cả những lời nói và hành động của Ra-ma làm cho Xi-ta cảm thấy thất vọng. Xi-ta đi từ mừng rỡ đến ngạc nhiên, từ tin yêu đến thất vọng. Linh cảm trong Xi-ta dường như mách bảo có chuyện hệ trọng sắp xảy ra. Nghe Xi-ta nói, nàng nhận ra những dấu hiệu chẳng lành. Cứu thoát vợ là một nghĩa vụ muôn đời của người chồng, thế nhưng Ra-ma cứu thoát Xi-ta nhằm mục đích gì. Tại sao khi ở cạnh Xi-ta, Ra-ma lại chỉ quan tâm đến những nhân vật không quan trọng như Ha-nu-man, Vi-phi-sa-na, tại sao Ra-ma lại gội Xi-ta là “hỡi phu nhân cao quý”… Bao nhiêu câu hỏi ập đến trong suy nghĩ của nàng báo hiệu một chuyện chẳng lành.

Đối mặt với nỗi tuyệt vọng khi bị người chồng buộc tội, tình yêu của Xi-ta thể hiện đậm nét. Đôi mắt Xi-ta đẫm lệ. Đó là đôi mắt nhìn chồng một cách bi thương. Bởi đối với Xi-ta, tất cả tình yêu của nàng đã dành cho Ra-ma. Tất cả những ngày nàng mong đợi để thể hiện tình yêu với Ra-ma thì giờ đây trở nên lạc lõng bởi Ra-ma không còn dành cho Xi-ta một tình yêu như thế. Nàng thất vọng nhưng đến khi nghe lời buộc tội của Ra-ma, Xi-ta đau đớn đến nghẹt thở, như một cây dây leo bị vòi voi quật nát. Tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh rất đặc sắc để miêu tả nỗi đau trong con người Xi-ta. Mỗi lời nói của Ra-ma nhằm vào Xi-ta như những mũi tên bắn trúng đích. Xi-ta xấu hổ cho số kiếp của nàng. Nàng muốn chôn vùi cả hình hài thân xác của mình. Rồi sau đó, Xi-ta khoan thai biện minh với chồng. Những lời biện minh có cả lí lẽ nhưng trên hết nàng nói là vì tình yêu. Rằng tình yêu của nàng chưa bao giờ thay đổi “chỉ có số mệnh của thiếp là đáng bị chê trách, nhưng những gì nằm trong vòng kiểm soát của thiếp, tức trái tim thiếp đây là thuộc về chàng”. Hay khi bị quỷ vương bắt, nàng luôn giữ trong mình một suy nghĩ “ta chỉ thuộc về một người, người đó là Ra-ma như ánh sáng thuộc về mặt trời”. Như thế ta thấy Xi-ta là một người phụ nữ có trái tim son sắt.

Giữa Ra-ma và Xi-ta có một sự không ngang bằng. Xi-ta đang là người bị phán xét, là người có tội. Nhưng trong Xi-ta lúc nào cũng có một niềm tin mãnh liệt, nàng tin vào trái tim mình và hi vọng. Lòng tin ấy cất lên qua lời nói: “Hỡi đức vua! Như một người thấp hèn bị cơn giận giày vò. Người đang nghĩ về thiếp như một người phụ nữ tầm thường. Tên thiếp là Gia-na-ki, bởi vì thiếp có liên quan đến lễ tế sinh của nhà vua Gia-na-ki… Vì không thể suy xét cho đúng đắn, chàng đã không hiểu được bản chất của thiếp. Tình yêu của thiếp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra như hoàn toàn vô ích”. Nói đến đây Xi-ta oà khóc, nàng thật đáng thương.

Cuối cùng, Xi-ta đã chọn bước lên giàn hỏa thiêu để khẳng định sự thuỷ chung, trong trắng của mình. Trong tín ngưỡng Bà la môn thì thần lửa A-nhi nắm vai trò phán xét tối cao. Đây cũng là mô tip quen thuộc trong văn học phương Đông – lấy cái chết để giải oan. Xi-ta bước lên giàn hoả thiêu với một tâm thế bình tĩnh đến lạ lùng. Giữa cảnh đó, mọi người có sự chấn động về tinh thần một cách ghê gớm khi tiễn biệt một tâm hồn cao cả về với thần linh vĩnh viễn. Thần lửa A-nhi đã giải thoát cho nàng. Đây là một kết thúc đầy chất lãng mạn, là sự gửi gắm niềm tin, hi vọng của con người.

Với nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc, nhân vật Xi-ta hiện lên với rất nhiều vẻ đẹp. Xi-ta là tiêu biểu cho người phụ nữ Ấn Độ nói riêng và người phụ nữ thế giới nói chung có tấm lòng thuỷ chung. Những đau khổ mà Xi-ta phải cam chịu cũng là những đau khổ mà bất kì một người phụ nữ nào có thể gặp phải.

Hình minh họa
Hình minh họa

10


Hà Ngô

Bài văn phân tích nhân vật Ra-ma và Xi-ta trong đoạn trích “Ra-ma buộc tội” số 10

Xi-ta là một người phụ nữ được lí tưởng hóa: thông minh, chung thủy, giàu lòng tự trọng, tự tin và vô cùng can đảm.

Phẩm chất thông minh ở nàng thể hiện trước hết ở sự linh cảm. Nóng lòng đến gặp chồng sau khi được chồng cứu thoát khỏi bàn tay nhơ bẩn của quỷ vương Ra-va-na, nhưng “Gia-na-ki mở tròn đôi mắt đẫm lệ” nhìn Ra-ma không chỉ là vì thất vọng (cái mà Xi-ta chờ ở chồng là sự âu yếm của cuộc đoàn viên). Sự mẫn cảm ở Xi-ta dường như mách bảo điều gì ghê gớm, rất hệ trọng với nàng sắp sửa diễn ra. Một cơn bão chỉ giây phút nữa thôi sẽ bất ngờ đổ ập xuống mà dấu hiệu của nó lúc này là sự im lặng rất đáng nghi ngơ. Tai Xi-ta nghe Ra-ma nói mà trí tuệ nàng đã đọc ra những ý nghĩa ở ngoài lời. Bao nhiêu những dấu hiệu không lành giúp cho Xi-ta nhận biết. Nào là chính chàng đã cứu thoát cho nàng. Điều này đã quá rõ ràng nên thật là khó hiểu. Bởi thật ra cứu vợ tai qua nạn khỏi là nghĩa vụ muôn đời của mọi người đàn ông chân chính, chưa nói là người quyền quý như Ra-ma. Vậy mục đích của nó là gì? Nào là tại sao gặp nàng, đối thoại với nàng. Ra-ma chỉ nhắc đến những nhân vật không quan trọng (so với bản thân nàng) là Ha-nu-man và Vi-phi-sa-na? Cũng là còn chưa nói đến sự lảng tránh của chính Ra-ma trong đôi mắt có phần thảng thốt của chàng lúc nhìn Xi-ta (mà người dẫn truyện nhận thấy và miêu tả: “lòng Ra-ma đau như dao cắt”), hoặc cách xưng hô bằng cách các đại từ nhân xưng trang trọng là “phu nhân cao quý” nữa,…

Chỉ người vợ yêu chồng mới cảm nhận được nỗi đau khi tình yêu của mình bị chính người chồng làm thương tổn. “Đôi mắt đẫm lệ” của Xi-ta nhìn chồng là đôi mắt bi thương. Bởi lẽ với Xi-ta, điều cao quý và thiêng liêng nhất là tình yêu với chồng. Ngay cả vẻ đẹp thể chất của nàng mà trời phú cho cũng là vì tình yêu ấy. Và bây giờ vẻ đẹp ấy đang sáng lên, đang chờ đợi như một lần trước đây chờ đợi. Chỉ có điều lúc này nó trở nên lạc lõng biết bao. Nó đã là một nghịch cảnh thật trớ trêu khi tình yêu ở chàng đã hết. Nhưng điều đó đầu tiên mới chỉ là cảm giác thoáng qua. Chỉ sau khi nghe hết lời luận tội của Ra-ma, Xi-ta “đau đớn đến nghẹt thở, như một cái dây leo bị vòi voi quật nát”.

Tác giả đã sử dụng phép so sánh để đặc tả nỗiđau của Xi-ta. Rồi cả một trường đoạn tiếp theo như những con sóng ào ạt miêu tả cảnh xô đẩy dập vùi. Mỗi lời nói của Ra-ma nhằm vào Xi-ta như những mũi tên trúng đích. Nàng bị săn đuổi đến cùng: “nghe những lời tố cáo chưa từng có, trước mặt đông đủ mọi người, Gia-na-ki xấu hổ cho số kiếp của nàng. Nàng muốn tựchôn vùi cả hình hài thân xác của mình…” Rồi sau đó, lời biện minh của Xi-ta một phần dựa vào lí lẽ, nhưng đến hai phần lại dựa vào tình yêu. Cái lí lẽ ấy thuộc về hoàn cảnh khách quan, bị động (Ra-va-na bắt cóc khi Xi-ta sợ chết khiếp mà ngất đi).Còn tình yêu của nàng thì chưa bao giờ thay đổi. Đó mới là vũ khí, là sức mạnh của nàng để qủy vương không sao chiếm đoạt nổi: “chỉ có số mệnh của thiếp là đáng bị chê trách, nhưng những gì nằm trong vòng kiểm soát của thiếp, tức trái tim thiếp đây là thuộc về chàng”. Thật đáng kiêu hãnh, tự hào khi người phụ nữ có trái tim son sắt ấy!

Nàng đang bị phán xét và trước mắt Ra-ma, nàng là người mắc trọng tội (tội không chung thủy), nhưng chưa một lúc nào Xi-ta cảm thấy mình đuối sức để cần đến một sự cầu xin. Có hai niềm tin mà Xi-ta dựa vào. Một là nguồn gốc xuất thân cao quý của nàng cũng y hệt như Ra-ma. Thứ hai, nàng tin vào trái tim của mình như tin vào hi vọng. Lòng tin ấy dõng dạc cất lên: “Hỡi Đức vua! Như một người thấp hèn bị cơn giận giày vò, Người đang nghĩ về thiếp như một phụ nữ tầm thường. Tên thiếp là Gia-na-ki, bởi vì thiếp có liên quan đêía lễ tế sinh của nhà vua Gia-na-ka… Vì không thể suy xét cho đúng đắn, chàng đã không hiểu được bản chất của thiếp… Tình yêu của thiếp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra hoàn toàn vô ích!”. Nói đến điều này, Xi-ta òa khóc như một người chịu oan ức. Nàng mới là kẻ đáng thương chứ không phải Ra-ma là kẻ đáng thương.

Hành xử cuối cùng của Xi-ta là bước vào giàn lửa. Trong tín ngưỡng của đạo Bà La Môn thì thần lửa A-nhi giữ vai trò phán xét tối cao. Lấy cái chết để giải oan là một mô típ nghệ thuật trong văn học bác học và văn học dân gian nhiều nước, nhất là các nước phương Đông. Nhưng có điều trong lời khấn thần linh, nhận ra hai giải pháp sóng đôi: nếu trong sạch thì thế này còn nếu không thì thế khác. Biết rất rõ tấm lòng mình là một dạ kiên trinh, Xi-ta cần đến thần Lửa A-nhi như một sự bao dung, che chở chứ không phải là sự phán xét đúng, sai. Tâm thế của Xi-ta vì thế mà bình tĩnh đến lạ lùng. Trong lúc ấy, mọi người lại đinh ninh là nàng sẽ chết, vì oan ức mà chết. Chính sự so le của hai thế giới quan (một thần thoại và một hiện thực) đã làm cho hành vi tử vì đạo của Xi-ta đột ngột thăng hoa trong sự cao cả tuyệt vời. Một chấn động tinh thần ghê gớm của những người chứng kiến đã xảy ra không gì kiềm giữ nổi cũng là một lẽ đương nhiên khi tiễn biệt một tâm hồn cao cả về với thần linh vĩnh viễn. Nhưng thần Lửa A-nhi đã giải thoát cho nàng. Kết thúc đầy chất lãng mạn này là sự gửi gắm một niềm tin, niềm hi vọng của con người.

Hình minh họa
Hình minh họa

0/5 (0 Reviews)

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button